Showing posts with label HÀNG XÓM CÓ GÌ. Show all posts
Showing posts with label HÀNG XÓM CÓ GÌ. Show all posts

Oct 29, 2026

Đằng sau báo cáo Việt Nam không có công đoàn độc lập: Chiêu bài dùng nhân quyền gây sức ép thương mại!

         Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) vừa chọn đúng những thời điểm đang và sắp diễn ra các cuộc đàm phán thương mại giữa Việt Nam với một số quốc gia phương Tây để tung ra bản báo cáo mang tựa đề quy chụp về tình hình công đoàn tại Việt Nam. Sự trùng hợp có chủ đích về mặt thời gian này không hề mang tính ngẫu nhiên, mà là một tính toán chiến lược nhằm tối đa hóa áp lực chính trị đúng vào các chu kỳ rà soát, thực thi các thỏa thuận thương mại lớn giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế.
        Báo cáo “There Are No Independent Trade Unions in Vietnam”, có thể dịch là “Không có công đoàn độc lập ở Việt Nam”, với phụ đề “Hà Nội tiếp tục đàn áp quyền tổ chức của người lao động” 54 trang, cho rằng Việt Nam chưa cho phép các tổ chức công đoàn độc lập với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hình thành và hoạt động trên thực tế; những cải cách pháp luật lao động chưa được triển khai đầy đủ. Từ đó, tổ chức này kêu gọi các đối tác thương mại, đặc biệt là Liên minh châu Âu và các nước tham gia CPTPP, gia tăng sức ép yêu cầu Việt Nam cải cách. Điểm khôi hài là báo cáo với tính chất bao trùm như vậy lại dựa trên hơn 30 cuộc phỏng vấn từ tháng 6/2025 đến tháng 8/2026, chắc chắn đều từ thành phần cốt cán các tổ chức, hội nhóm phản động mang danh, đội lốt “đấu tranh nhân quyền cho Việt Nam”.
        Việc lựa chọn thời điểm công bố báo cáo trùng khớp với các mốc rà soát quan trọng của các hiệp định thương mại tự do như Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu hay Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương phơi bày một động cơ không trong sáng. Thay vì dựa trên tiến trình nghiên cứu khách quan hay tuân thủ các chuẩn mực khoa học thông thường, tổ chức này lại sử dụng chiêu bài “thời điểm vàng” để gây nhiễu loạn thông tin, tạo ra hiệu ứng truyền thông tiêu cực đúng vào lúc các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam và các đối tác thương mại đang tiến hành các kỳ đối thoại, đánh giá định kỳ. Việc tính toán thời gian tung ra các tài liệu xuyên tạc này nhằm mục đích gây sức ép tâm lý, buộc các chính phủ đối tác phải đưa ra những yêu cầu khắt khe hoặc đình chỉ các ưu đãi thuế quan dành cho Việt Nam. Cách hành xử mang đậm mưu đồ chính trị thực dụng này hoàn toàn đi ngược lại các nguyên tắc hợp tác quốc tế bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và phơi bày bản chất thực sự của một nhóm lợi ích mượn danh nhân quyền để can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền.
        Trái ngược hoàn toàn với những nỗ lực bôi nhọ nhằm phá hoại quan hệ đối ngoại của các thế lực thù địch, thực tiễn sinh động đã chứng minh rằng quan hệ thương mại song phương và đa phương giữa Việt Nam với cộng đồng quốc tế vẫn không ngừng phát triển thực chất, vững chắc và đạt được những thành tựu to lớn dựa trên nền tảng tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi. Ngành công đoàn Việt Nam cùng các cơ quan quản lý nhà nước luôn chủ động, tích cực triển khai nghiêm túc các cam kết quốc tế về lao động, không ngừng nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho hàng chục triệu người lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Hàng loạt các chương trình chăm lo thiết thực, các bản thỏa ước lao động tập thể với những điều khoản vượt trội so với luật định, cùng hệ thống an sinh xã hội ngày càng bao trùm và hoàn thiện chính là minh chứng đập tan mọi luận điệu vu khống cho rằng Việt Nam thiếu quan tâm đến quyền lợi người lao động. Sự phát triển kinh tế thần kỳ, dòng vốn đầu tư nước ngoài không ngừng đổ vào Việt Nam và sự tín nhiệm cao của các đối tác thương mại lớn chính là câu trả lời đanh thép nhất bác bỏ mọi âm mưu phá hoại kinh tế từ bên ngoài.
        Khi đặt chiêu bài “gắn kết nhân quyền với thương mại” của tổ chức ngoại biên này lên bàn cân so sánh với bức tranh toàn cảnh của kinh tế thế giới, người ta càng nhận thức rõ bản chất tiêu cực của thứ vũ khí bảo hộ mậu dịch trá hình. Trong thời kỳ chiến tranh thương mại toàn cầu, việc các thế lực phương Tây dùng các tiêu chuẩn lao động hoặc nhân quyền làm rào cản kỹ thuật để ép buộc, kìm hãm sự phát triển của các quốc gia đang trỗi dậy là một thủ đoạn không hề mới. Thế nhưng, trong khi nhiều quốc gia khác thường rơi vào thế bị động trước các đòn trừng phạt kinh tế, Việt Nam đã khẳng định bản lĩnh vững vàng thông qua đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia tối cao. Những nỗ lực cải cách thể chế nội địa của Việt Nam xuất phát từ nhu cầu phát triển bền vững của chính đất nước chứ không phải để khuất phục trước áp lực ngoại bang hay các chiến dịch truyền thông bẩn được tính toán thời gian tỉ mỉ.
        Tuy nhiên, việc các tổ chức phản động lưu vong như nhóm đại diện cực đoan ở hải ngoại cùng các hội nhóm dân chủ trá hình lập tức vồ vập lấy thời điểm công bố báo cáo để hùa theo, xào nấu và thổi phồng thông tin trên không gian mạng nhằm bôi nhọ uy tín quốc gia là một thực tế đòi hỏi toàn xã hội phải luôn đề cao cảnh giác. Mưu đồ thâm độc của chúng là phối hợp nhịp nhàng với chiến dịch truyền thông của các thế lực bên ngoài để tạo sức ép tối đa, kêu gọi các chính khách phương Tây áp dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế, gây bất ổn xã hội từ bên trong và cản trở đà vươn lên mạnh mẽ của Việt Nam. Bản chất kinh tế kết hợp chính trị đằng sau lớp vỏ bọc bảo vệ nhân quyền của các tổ chức này đã bị phơi bày hoàn toàn dưới ánh sáng của thực tiễn, vạch trần dã tâm đen tối muốn dùng đói nghèo và bất ổn để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
        Nhìn nhận một cách sâu sắc, mọi mưu đồ lợi dụng thời điểm đàm phán thương mại để tung ra các báo cáo xuyên tạc nhằm gây sức ép đối ngoại đều chỉ là những toan tính vô vọng, không thể lay chuyển được quyết tâm phát triển của dân tộc Việt Nam. Dư luận tiến bộ trong và ngoài nước hoàn toàn đủ trí tuệ để nhìn thấu bản chất vụ lợi, thực dụng và thù địch của các tổ chức ngoại biên. Với nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, vị thế quốc tế không ngừng được nâng cao, khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc và tinh thần chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam sẽ tiếp tục vững bước trên con đường phồn vinh, đập tan mọi âm mưu kinh tế chính trị đen tối từ bên ngoài và khẳng định mạnh mẽ hình ảnh một quốc gia có chủ quyền, hòa bình, thịnh vượng./.

(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)


Oct 16, 2026

Tự do ngôn luận phải đi cùng trách nhiệm

         Nghị định số 367/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí có hiệu lực từ ngày 26/9/2026. Ngay sau khi được ban hành, văn bản này trở thành mục tiêu công kích của một số tổ chức, cá nhân cực đoan, thiếu thiện chí. Cùng với việc diễn giải suy diễn hòng làm sai lệch nội dung nghị định, có ý kiến còn vu cáo đây là biện pháp “bóp nghẹt tự do báo chí”. Tuy nhiên, muốn đánh giá đúng bản chất của một văn bản pháp luật, cần căn cứ những quy định cụ thể, đặt trong hệ thống pháp luật hiện hành và xem xét đầy đủ cả quyền, nghĩa vụ lẫn trách nhiệm của các chủ thể liên quan.

Ảnh: Phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí tác nghiệp
tại một sự kiện đối ngoại quốc phòng

Nghị định 367 quy định hành vi vi phạm, hình thức và mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực báo chí. Văn bản này cụ thể hóa chế tài theo Luật Báo chí số 126/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Chi tiết đang bị các trang mạng phản động, thiếu thiện chí khai thác nhiều nhất là mức phạt tiền tối đa 500 triệu đồng đối với tổ chức, 250 triệu đồng đối với cá nhân cho mỗi hành vi vi phạm. Trang “Chân trời mới Media” vu cáo rằng Nghị định 367 là “công cụ mới” để bóp nghẹt tự do báo chí, biến báo chí thành kênh tuyên truyền một chiều. Một số đối tượng rêu rao mức phạt cao sẽ khiến các tòa soạn sợ hãi, tự kiểm duyệt; quy kết rằng quy định có thể dùng để xử lý tùy tiện những tiếng nói trái chiều. Có đối tượng còn đem chuẩn mực của nước ngoài ra làm thước đo để rồi kết luận Việt Nam đang siết chặt báo chí.

Điểm chung của các nhận định này là cố tình xoáy vào số tiền xử phạt mà phớt lờ các nội dung khác trong văn bản. Đối chiếu với chính nghị định, có thể thấy trước hết, 500 triệu đồng là mức trần, không phải mức phạt chung.

Điều 14 của Nghị định, quy định về vi phạm trong đăng, phát nội dung thông tin, chia thành 9 khung tiền phạt, thấp nhất từ 5 - 10 triệu đồng. Đăng, phát thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng ít nghiêm trọng bị phạt 10 - 20 triệu đồng; gây ảnh hưởng nghiêm trọng 60 - 80 triệu đồng; rất nghiêm trọng 80 - 100 triệu đồng.

Khung 400 - 500 triệu đồng chỉ áp dụng cho 2 nhóm hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự: Thông tin gây ảnh hưởng đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; thông tin gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc.

Thứ hai, Nghị định không tự đặt ra điều cấm mới. Những hành vi chịu khung phạt cao nhất được dẫn chiếu trực tiếp đến Điều 8, Luật Báo chí năm 2025. Các quy định này phù hợp với Khoản 2, Điều 14, Hiến pháp năm 2013: Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Giới hạn cụ thể do Quốc hội xác lập bằng luật, nghị định quy định ra chế tài hành chính tương ứng. Người bị xử phạt có quyền giải trình, khiếu nại, khởi kiện theo Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Thứ ba, trong danh mục hành vi bị xử phạt về nội dung thông tin, không có hành vi nào là phản biện chính sách, phản ánh tiêu cực, mà chỉ xử lý với việc bịa đặt, vu khống, đưa tin sai sự thật. Phát hiện bất cập, phản ánh điều người dân quan tâm là chức năng của báo chí. Dĩ nhiên, với những khái niệm có phạm vi diễn giải rộng, việc áp dụng phải dựa trên chứng cứ, đúng thẩm quyền và nhất quán giữa các vụ việc. Đó là đòi hỏi chính đáng đối với cơ quan thực thi, song không thể vin vào đó để xuyên tạc rằng văn bản được ban hành nhằm bịt miệng báo chí.

Thứ tư, có một phần trong Nghị định mà các đối tượng phản động, cực đoan cố tình không nhắc tới, đó là những quy định bảo vệ nhà báo và bảo vệ người dân trước sai phạm của báo chí. Tại Điều 13, hành vi cản trở trái pháp luật hoạt động nghề nghiệp của nhà báo, phóng viên bị phạt 20 - 30 triệu đồng; thu giữ trái phép phương tiện, tài liệu tác nghiệp 30 - 50 triệu đồng; xúc phạm nhà báo đang tác nghiệp, cố ý làm hư hỏng phương tiện 50 - 70 triệu đồng; đe dọa, uy hiếp tính mạng nhà báo, phóng viên 70 - 100 triệu đồng.

Theo Nghị định số 119/2020/NĐ-CP của Chính phủ trước đây, mức cao nhất cho nhóm hành vi này là 60 triệu đồng. Đồng thời tại Điều 14, cơ quan báo chí bị phạt nếu quy kết tội danh khi chưa có bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án, không đăng ý kiến phản hồi của tổ chức, cá nhân liên quan, tiết lộ bí mật đời tư hoặc làm lộ danh tính người tố cáo.

Việc các đối tượng cố tình khai thác mức tiền phạt trong Nghị định 367, bị đẩy thành câu chuyện “đàn áp” tự do ngôn luận, tự do báo chí, trước hết nhằm gieo tâm lý e dè, đề phòng trong đội ngũ làm báo, tách người làm báo khỏi cơ quan quản lý. Tiếp đó là tạo cớ: mỗi lần Việt Nam ban hành một văn bản về báo chí hay không gian mạng, lập tức những đối tượng này lớn tiếng lu loa, xuyên tạc, dẫn ra như những “dẫn chứng” cụ thể, để rồi từ đó biến thành dữ liệu, căn cứ cho những bản phúc trình, bảng xếp hạng thiếu khách quan về tự do báo chí, làm căn cứ vận động gây sức ép từ bên ngoài. Sâu xa hơn, khi coi mọi chế tài đối với tin giả, xuyên tạc lịch sử là vi phạm tự do ngôn luận, họ đang đòi một vùng miễn trừ pháp lý cho chính loại thông tin ấy.

Trong khi đó, nhu cầu về thông tin chính xác chưa bao giờ lớn như hiện nay. Hình ảnh, giọng nói, video do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra ngày càng khó phân biệt với tư liệu thật; một tin sai có thể làm tổn hại danh dự một con người, uy tín một doanh nghiệp trước khi sự thật kịp được làm rõ. Phóng viên bỏ hàng tháng trời điều tra, xác minh không thể bị đánh đồng với những nơi giật tít câu khách, dựng chuyện sai sự thật. Xử lý nghiêm vi phạm cũng là bảo vệ uy tín của những người làm nghề tử tế.

Khoản 3, Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, mà Việt Nam gia nhập năm 1982, nêu rõ việc thực hiện quyền tự do ngôn luận kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, có thể phải chịu một số hạn chế do luật định để tôn trọng quyền, uy tín của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội.

Ở Đức, Điều 130, Bộ luật Hình sự xử lý hành vi kích động thù hận, phủ nhận hoặc hạ thấp tội ác của chủ nghĩa quốc xã, với hình phạt đến 5 năm tù. Pháp có Luật Gayssot năm 1990 trừng phạt việc phủ nhận tội ác chống loài người. Luật An toàn trực tuyến năm 2023 của Anh cho phép phạt doanh nghiệp vi phạm đến 18 triệu bảng Anh hoặc 10% số doanh thu toàn cầu. Ngay tại Hoa Kỳ, nơi Tu chính án thứ nhất bảo vệ tự do ngôn luận rất mạnh, tháng 4/2023 Fox News vẫn phải chấp nhận trả 787,5 triệu USD để dàn xếp vụ kiện phỉ báng của Công ty Dominion Voting Systems liên quan thông tin sai về bầu cử.

Mỗi nước có hệ thống pháp luật riêng, nhưng các thí dụ nêu trên cho thấy không nơi nào coi tự do ngôn luận là quyền phát ngôn vô giới hạn.

Điều 25, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 ghi nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin của công dân. Đó là quyền hiến định, không phải sự ban phát, và Nghị định 367 không thu hẹp quyền ấy. Người được lợi từ một nền báo chí có kỷ cương chính là công chúng, bởi họ được tiếp cận một môi trường thông tin văn minh, lành mạnh, nhân văn, được bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng./.

(Trích nguồn: nhandan.vn)

 

Oct 14, 2026

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc, cổ xúy “thay đổi thể chế chính trị” ở Việt Nam

         Trên trang Tinhoathinhdon, bút danh Tin Hoa Thịnh Đốn đăng bài viết “Việt Nam sẽ chọn mô hình chính trị nào nếu có thay đổi thể chế”, trong đó đưa ra nhiều nhận định suy diễn, xuyên tạc về tình hình chính trị Việt Nam; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời cổ xúy cho việc hình thành lực lượng đối lập và thay đổi thể chế chính trị. Những luận điệu này cần được nhận diện rõ và bác bỏ trên cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn phát triển của đất nước.
        Thứ nhất, bác bỏ luận điệu suy diễn, cổ xúy thay đổi thể chế và áp đặt mô hình chính trị từ bên ngoài. Bài viết cố tình dựng lên những kịch bản thiếu căn cứ về “thay đổi thể chế ở Việt Nam”, thậm chí suy diễn khả năng Đảng Cộng sản Việt Nam “bị xóa sổ” do tranh chấp nội bộ, tham nhũng hay khủng hoảng kinh tế. Đáng chú ý, từ những suy diễn đó, tác giả hướng người đọc tới việc lựa chọn một mô hình chính trị khác, đồng thời kêu gọi các “nhóm dân chủ” và “nhà hoạt động xã hội” hình thành mặt trận thống nhất để thúc đẩy “tự do, dân chủ hóa”. Cách lập luận này không phải là phân tích khoa học về thể chế mà là sự lồng ghép giữa giả định chính trị với mục đích định hướng nhận thức, từ đó tạo tâm lý hoài nghi về tính chính danh và tính ổn định của hệ thống chính trị Việt Nam.
        Cần khẳng định rằng, mỗi quốc gia có điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội và quá trình phát triển riêng; vì vậy, không thể lấy mô hình chính trị của quốc gia này làm khuôn mẫu để áp đặt cho quốc gia khác. Việc một nước tổ chức hệ thống chính trị theo mô hình đa đảng hay một mô hình khác không mặc nhiên đồng nghĩa với việc mô hình đó phù hợp với mọi quốc gia. Điều quan trọng là thể chế phải được đặt trong điều kiện lịch sử cụ thể, đáp ứng yêu cầu quản trị đất nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và phù hợp với mục tiêu phát triển mà quốc gia lựa chọn.
        Đối với Việt Nam, thể chế chính trị hiện hành được xác lập trong Hiến pháp và gắn với quá trình đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước cũng như công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) xác định Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Điều 4 Hiến pháp quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đồng thời xác định Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Do đó, đặt vấn đề “Việt Nam sẽ chọn mô hình nào nếu thay đổi thể chế” rồi từ đó cổ xúy mô hình chính trị ngoại lai thực chất đã bỏ qua một vấn đề căn bản: Thể chế chính trị Việt Nam không phải sản phẩm của một quyết định nhất thời, càng không phải mô hình có thể tùy tiện thay thế theo sự áp đặt từ bên ngoài. Những đề xuất hướng tới đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập cần được nhìn nhận trong tổng thể lịch sử và thực tiễn Việt Nam, thay vì được trình bày như một “giải pháp tất yếu” cho sự phát triển của đất nước.
        Thứ hai, thực tiễn 40 năm đổi mới bác bỏ cách nhìn phiến diện, phủ nhận con đường phát triển và những thành tựu của Việt Nam. Một trong những điểm thiếu thuyết phục của bài viết là lấy những giả định về “khủng hoảng kinh tế”, “bất ổn chính trị – xã hội” để suy diễn về khả năng thay đổi thể chế, trong khi không đưa ra được hệ thống bằng chứng tương xứng để chứng minh cho những dự báo đó. Trái lại, thực tiễn 40 năm đổi mới cho thấy Việt Nam đã có những biến đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế. Ngân hàng Thế giới đánh giá các cải cách từ khi Đổi mới năm 1986 đã góp phần đưa Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất trở thành nền kinh tế thu nhập trung bình; GDP bình quân đầu người tăng mạnh và tỷ lệ dân số sống dưới ngưỡng nghèo giảm đáng kể.
        Những số liệu gần đây tiếp tục cho thấy nền kinh tế Việt Nam duy trì đà phát triển. Theo dữ liệu Ngân hàng Thế giới, GDP Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 514,7 tỷ USD, GDP bình quân đầu người khoảng 5.066 USD và tăng trưởng GDP đạt 8,02%. Theo báo cáo của Chính phủ, năm 2025 thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 5,9 triệu đồng/người/tháng, tăng 9,3% so với năm 2024; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều khoảng 1,3%, giảm 1 điểm phần trăm so với năm trước.
        Những kết quả trên không có nghĩa Việt Nam không còn khó khăn, hạn chế hay những vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Trái lại, chính quá trình phát triển đặt ra yêu cầu phải thường xuyên đổi mới phương thức quản lý, hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng tăng trưởng, kiểm soát tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và giải quyết hiệu quả các vấn đề xã hội. Nhưng từ sự tồn tại của những vấn đề đó để suy diễn thành “khủng hoảng thể chế”, rồi tiếp tục đi đến kết luận cần thay đổi mô hình chính trị, là cách lập luận thiếu cơ sở, trái với thực tiễn Việt Nam.
        Tóm lại, bài viết của Tin Hoa Thịnh Đốn đã dựa trên những giả định thiếu căn cứ để suy diễn về khả năng thay đổi thể chế ở Việt Nam, đồng thời cổ xúy mô hình chính trị ngoại lai và hình thành lực lượng đối lập. Những luận điệu đó không phản ánh đầy đủ cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn phát triển của Việt Nam. Cần tỉnh táo nhận diện, kiên quyết bác bỏ những thông tin xuyên tạc; đồng thời chủ động cung cấp thông tin chính xác, khách quan về quá trình đổi mới, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và những thành tựu phát triển của đất nước, góp phần củng cố nhận thức đúng đắn và sự đồng thuận xã hội./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)


Oct 12, 2026

Quan điểm “lấy dân làm gốc” là chân lí không thể bôi nhọ, xuyên tạc

        Mới đây, trang mạng phản động Thongluan đã đăng tải bài viết có tiêu đề “Đảng cộng sản Việt Nam lấy dân làm gốc hay làm guốc”. Đây là bài viết xuyên tạc, phủ nhận quan điểm “lấy dân làm gốc” của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quy chụp cho Đảng Cộng sản Việt Nam “đặt lợi ích cai trị lên trên quyền lợi nhân dân”, “lấy dân làm gốc để phục vụ Đảng” và “bóp nghẹt tự do tôn giáo, dân chủ”. Mục đích của bài viết nhằm bôi nhọ lãnh tụ, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, xóa bỏ vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
        1. Không thể xuyên tạc quan điểm “lấy dân làm gốc” thành “lợi dụng dân”. Có thể khẳng định, bài viết trên trang Thongluan.blog đã cố tình xuyên tạc, bôi nhọ Đảng Và Chủ tịch Hồ Chí Minh khi cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam và ông Hồ Chí Minh lấy dân làm gốc chỉ là để phục vụ Đảng, mượn danh nhân dân nhằm củng cố địa vị độc tôn cầm quyền và đặt lợi ích của Đảng lên trên quyền lợi của nhân dân”. Đây là một luận điệu vô cùng độc hại, đổi trắng thay đen, xúc phạm trực tiếp đến bản chất cách mạng của Đảng và danh dự của lãnh tụ dân tộc.
        Sự nguy hiểm của luận điệu này nằm ở chỗ, nó cố tình đánh tráo bản chất lý luận, sử dụng chiêu bài ngụy biện tinh vi để gieo rắc sự hoài nghi, tạo tâm lý ly khai, đối lập giữa Đảng với nhân dân. Thủ đoạn đen tối là cắt xén, bóp méo các khái niệm kinh điển, lợi dụng một số hạn chế, thiếu sót cục bộ của một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức để quy chụp cho bản chất của toàn bộ hệ thống, biến mối quan hệ “máu thịt” khăng khít giữa Đảng và đân thành mối quan hệ “cai trị và bị trị” theo mô hình chính trị tư sản phương Tây. 
        Tuy nhiên, mọi mưu đồ đê hèn hòng phân rã, chặt đứt sợi dây liên hệ máu thịt giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhân dân đều sẽ bị nghiền nát trước chân lý lịch sử. Sự đồng nhất tuyệt đối giữa lợi ích của Đảng và vận mệnh của nhân dân không phải là thứ lý thuyết nằm trên giấy mực, mà đã được khắc bằng xương, viết bằng máu của hàng triệu anh hùng liệt sĩ qua những chặng đường trường chinh giữ nước. Thực tế chứng minh, nếu Đảng chỉ ích kỷ mưu cầu lợi ích riêng, không vì nhân dân, tại sao hàng vạn đảng viên cộng sản lại kiên cường bước lên đoạn đầu đài, biến các “địa ngục trần gian” Côn Đảo, Phú Quốc thành trường học cách mạng mà không một lời khuất phục.  
        Đây là là chứng khẳng định, vai trò và quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng không phải do tự phong, không phải sự “áp đặt” hay “lợi dụng” mà là sự giao phó, ủy thác thiêng liêng bằng cả tính mạng và niềm tin sắt đá của toàn thể dân tộc Việt Nam.
        2. Bóc trần thủ đoạn vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam “độc tài, bóp nghẹt các quyền tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Bên cạnh việc bóp méo lý luận, bài viêt còn điên cuồng tung ra luận điệu vu khống, đổi trắng thay đen về mặt thực tiễn khi cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam phân biệt, tiêu diệt các thành phần đối lập, dùng các biện pháp cưỡng ép dân trong thiên tai, dịch bệnh và bóp nghẹt các quyền tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Đây là sự vu cáo hết sức trơ trẽn, vô liêm sỉ, nhằm trực tiếp bôi nhọ các chính sách an sinh xã hội và hệ thống luật pháp của Nhà nước ta.
        Thủ đoạn xảo quyệt của bài viết này là sử dụng kỹ nghệ “truyền thông đen” một cách đê hèn, cố tình “thổi phồng” các hiện tượng đơn lẻ, nhào nặn và bóp méo thông tin nhằm quy chụp thành bản chất chủ trương của Đảng. Đây là chiêu trò lừa bịp, núp bóng dưới vỏ bọc mỹ miều như “bảo vệ nhân quyền” hay “tự do tôn giáo” hòng đổi trắng thay đen, biến những kẻ tội đồ chà đạp lên pháp luật, những phần tử phản quốc hại dân thành “nạn nhân bị đàn áp”. 
        Thực chất của âm mưu thâm độc này là công kích, phá hoại sự ổn định chính trị, tạo cớ cho các thế lực bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, tiến tới mục tiêu bao vây, cô lập và hạ thấp uy tín của nước ta trên trường quốc tế. Thế nhưng, toàn bộ trò hề dựng chuyện ấy đều bị nghiền nát trước thực tiễn sinh động của đất nước. Minh chứng rõ nhất là trong thử thách từ đại dịch hay thiên tai khốc liệt, triết lý nhân văn “không để ai bị bỏ lại phía sau” đã được hiện thực hóa bằng việc hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, y bác sĩ đảng viên sẵn sàng xả thân nơi tuyến đầu để bảo vệ tính mạng nhân dân, cùng hàng chục nghìn tỷ đồng ngân sách được chi ra để bảo đảm an sinh xã hội. 
        Bên cạnh đó, đời sống tín ngưỡng, tự do tôn giáo của nhân dân ngày càng phong phú, đa dạng, hàng nghìn cơ sở thờ tự được trùng tu và các đại lễ tôn giáo lớn được tổ chức công khai, an toàn cho hàng triệu tín đồ. Vì vậy, việc Nhà nước xử lý nghiêm trị những phần vu khống Đảng “dồn ép lòng dân”, lợi dụng tôn giáo, núp bóng “dân chủ, nhân quyền” để phá hoại an ninh quốc gia là trách nhiệm thượng tôn pháp luật tất yếu nhằm bảo vệ sự bình yên cho nhân dân.
        Tóm lại, bài viết trên trang Thongluan đã xuyên tạc trắng trợn quan điểm “lấy dân làm gốc” của Đảng và Chủ tịch Hồ chi Minh. Các luận điệu bài viết đưa ra nhằm cố tình bóp méo nội hàm quan điểm “lấy dân làm gốc”, dựng lên sự đối lập giả tạo giữa Đảng và nhân dân. Qua đây, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân phải tỉnh táo, nâng cao tinh thần cảnh giác và tư duy phản biện khi tiếp cận thông tin mạng, tuyệt đối không chia sẻ, không tiếp tay phát tán bài viết từ trang phản động, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội và bảo vệ thành quả phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới./.
(Trích nguồn: nhanvanviet.com)


Oct 6, 2026

Không thể nào chia cắt tinh thần “tình dân tộc - nghĩa đồng bào”

         Nghị quyết số 23-NQ/TW. ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài (Nghị quyết 23) đã khẳng định tinh thần hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Đông đảo cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đón nhận thông điệp ấy như lời mời cùng chung tay xây dựng đất nước. Thế nhưng, một số tổ chức, cá nhân chống đối ở nước ngoài lại ra sức bóp méo, gọi đó là “chiêu bài”, là “thủ đoạn”, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tham dự sự kiện văn hóa nghệ thuật
“Việt Nam: Hành trình Tổ quốc qua điện ảnh và âm nhạc”
và gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ.
        Vừa qua, trong chuyến công tác tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 và thực hiện các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ, ngày 21/9 vừa qua tại thành phố New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã tham dự sự kiện văn hóa nghệ thuật “Việt Nam: Hành trình Tổ quốc qua điện ảnh và âm nhạc” và gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam ở đây. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước bày tỏ: “Trong cộng đồng có nhiều thế hệ, nhiều hoàn cảnh và nhiều cách nhìn khác nhau về lịch sử. Tuy nhiên, “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, đó là chân lý không bao giờ thay đổi”. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kêu gọi cộng đồng khép lại quá khứ, cùng chung tay kiến tạo tương lai dân tộc vì đây không chỉ là mong muốn mà là trách nhiệm của thế hệ chúng ta với thế hệ mai sau.
        Những lời lẽ chân thành ấy, cũng như chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta đối với người Việt Nam ở nước ngoài lập tức bị một số tổ chức, cá nhân cực đoan, phản động tìm cách xuyên tạc, công kích. Các đối tượng cho rằng hòa hợp dân tộc chỉ là “bình cũ, rượu cũ”; đồng thời rêu rao, sau hơn 50 năm, việc Việt Nam vẫn phải tiếp tục kêu gọi hòa giải là lỗi của thể chế. Lập luận này mặc nhiên coi hòa hợp như một việc làm một lần là xong. Các đối tượng cố tình tách rời tuyên bố vừa qua của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khỏi quá trình xây dựng và thực hiện chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài suốt nhiều năm qua để cho rằng lời kêu gọi bây giờ là quá muộn. Trong khi đó, những kẻ chỉ trích thông điệp là vô nghĩa vốn đang thuộc các tổ chức nhiều năm nay lấy việc khơi lại hận thù làm lý do tồn tại và cơ hội trục lợi.
        Luận điệu thứ hai cho rằng, Nhà nước chỉ nhìn người Việt ở nước ngoài như một “nguồn lực” gồm tiền, chất xám, công nghệ, bị Nhà nước khai thác. Song Nghị quyết 23 nhấn mạnh người Việt Nam ở nước ngoài trước hết là “bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”, sau đó mới là “một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng”. Nghị quyết còn đặt mục tiêu giúp bà con có địa vị pháp lý vững chắc, hòa nhập sâu rộng ở nước sở tại. Tại cuộc gặp chuyên gia, trí thức ở Hoa Kỳ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói rõ: việc trở về hay tiếp tục làm việc ở nước ngoài “là lựa chọn gắn với nghề nghiệp, gia đình và hoàn cảnh của mỗi người. Đảng, Nhà nước tôn trọng những lựa chọn đó”.
        Khi không thể phủ nhận chủ trương đúng đắn này, các đối tượng cố tình xuyên tạc mục đích, động cơ của Nghị quyết 23 là một “chiến lược thâm nhập” nhằm tác động tới cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đây là cáo buộc vô căn cứ. Nghị quyết yêu cầu công tác người Việt Nam ở nước ngoài phải phù hợp với pháp luật, phong tục, tập quán của Việt Nam và nước sở tại. Những nhiệm vụ nghị quyết đề ra, từ dạy tiếng Việt, kết nối trí thức, doanh nhân đến bảo hộ công dân, đều thực hiện công khai và dựa trên sự tự nguyện của bà con.
        Hơn 6,5 triệu người Việt ở hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có rất nhiều trí thức, doanh nhân thành đạt, đủ hiểu biết để tự quyết định mình gắn bó và đóng góp với quê hương bằng những cách thức phù hợp. 
        Mặt khác, các đối tượng còn dùng thủ pháp đánh tráo khái niệm. Khai thác nội dung “một bộ phận nhỏ người Việt Nam ở nước ngoài vẫn còn định kiến, nhận thức và hành động chưa phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc, thậm chí có hành động phá hoại mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và các nước sở tại, gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt Nam”, các đối tượng quy kết Nhà nước “phân loại”, “phân biệt đối xử”; chỉ chấp nhận những ý kiến “phù hợp”... Khi cơ quan chức năng xử lý người vi phạm pháp luật, các đối tượng lập tức lu loa Việt Nam “đàn áp người khác chính kiến”.
        Thực tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng sự khác biệt về quan điểm phát triển kinh tế, văn hóa, việc góp ý xây dựng thể chế luôn được ghi nhận và tiếp thu qua các diễn đàn, hội nghị. Tại cuộc gặp chuyên gia, trí thức ở Hoa Kỳ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu cần có đầu mối liên hệ rõ ràng để kiều bào tiếp tục gửi góp ý sau cuộc gặp, và mong có những cuộc trao đổi cởi mở. Tuy nhiên, cần xác định ranh giới pháp luật giữa “bất đồng chính kiến” và “hành vi chống phá, xâm phạm an ninh quốc gia”. Pháp luật Việt Nam không có tội danh nào dành cho việc góp ý, phản biện; người bị xử lý hình sự là người có hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm. Nguyên tắc này không riêng gì Việt Nam. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, tại Điều 19, thừa nhận quyền tự do ngôn luận có thể bị giới hạn bằng luật để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng. 
        Hòa hợp dân tộc đã được Đảng, Nhà nước ta kiên định thực hiện từ những ngày đầu lập nước. Ngày 31/5/1946, trong Thư gửi đồng bào Nam Bộ trước khi lên đường sang thăm nước Pháp và dự Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc”.
        Lời khuyên của Hồ Chủ tịch đã được khắc ghi và thực hành qua các giai đoạn lịch sử. Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị về chính sách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài khẳng định, người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc. Năm 2004, Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài yêu cầu: “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai”. Nghị quyết 23 kế thừa tinh thần đó đồng thời nhấn mạnh yêu cầu “gác lại quá khứ”; công tác vận động, chăm lo chuyển mạnh sang đồng hành, tạo cơ chế để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia những việc lớn của đất nước.
        Gác lại quá khứ không có nghĩa là quên lịch sử, buộc ai phải từ bỏ ký ức của mình hay xóa đi những khác biệt về hoàn cảnh, trải nghiệm, quan điểm. Điều cốt lõi ở đây là tôn trọng những khác biệt không trái với lợi ích quốc gia - dân tộc, để quá khứ không còn là rào cản. Tinh thần này được chính người Việt Nam ở nước ngoài đón nhận, đánh giá cao. Ông David Nguyễn, người Việt tại Hoa Kỳ ghi nhận: “Nghị quyết 23 thể hiện một tư duy phát triển cởi mở và chủ động hơn rất nhiều. Tôi hiểu rất rõ cái giá của sự chia rẽ. Tinh thần xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai không phải là chối bỏ lịch sử mà là sự dũng cảm vượt qua nỗi đau để sống cho hiện tại và tương lai của con cháu. Một dân tộc biết bao dung, vượt qua hận thù để nắm tay nhau là một dân tộc hùng cường”. Ông Nguyễn Hoài Bắc, Chủ tịch Hội doanh nhân Việt Nam - Canada, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bày tỏ: “Chúng ta hòa hợp, hòa giải dân tộc để chúng ta trở lại cuộc sống bình yên. Chúng ta không quên lịch sử, nhưng không đào bới bởi vết thương đã lành thì đừng làm nó hư lại”.
        Nghị quyết số 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài đã cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đại hội XIV và đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, xác định: người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mà còn là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia. Nghị quyết thể hiện sự nâng tầm tư duy chiến lược của Đảng ta trong giai đoạn phát triển mới, người Việt Nam ở nước ngoài được đặt vào vị trí trung tâm, được bảo vệ quyền lợi hợp pháp và được tạo điều kiện tốt nhất để cống hiến cho dân tộc.
        Trong sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cần tiếp tục phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại. Nguồn lực trong nước và nguồn lực quốc tế phải được kết nối. Nguồn lực vật chất phải đi cùng với nguồn lực trí tuệ. Sức mạnh của hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước phải được gắn với sức mạnh của 6,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc trên khắp thế giới để cùng nhau chung tay vun đắp tương lai./.

(Trích nguồn: nhandan.vn)


Oct 1, 2026

Nhận diện và bác bỏ luận điệu “chính trị hóa” Gen Z

            Trên trang Boxitvn, Nguyễn Quang A đưa ra quan điểm cho rằng những phản ứng, tranh luận và bày tỏ quan điểm của một bộ phận giới trẻ hiện nay là biểu hiện của một “căn tính chính trị” mới. Cách nhìn này đã cố tình nâng một số biểu hiện xã hội trên không gian mạng thành một hiện tượng chính trị mang tính đại diện cho cả thế hệ Gen Z. Đây là cách diễn giải phiến diện, thiếu căn cứ, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ chính trị hóa tiếng nói của giới trẻ, khai thác những tâm lý, nguyện vọng chính đáng của thanh niên để phục vụ những mục đích không xuất phát từ nhu cầu phát triển lành mạnh của thế hệ trẻ.

Thứ nhất, không thể đánh đồng những biểu hiện xã hội đa dạng của Gen Z với một “căn tính chính trị” thống nhất. Gen Z là thế hệ trưởng thành trong môi trường internet, mạng xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ. Vì vậy, họ có phương thức tiếp cận thông tin, giao tiếp và thể hiện quan điểm nhanh chóng, trực tiếp và đa chiều hơn. Việc một bộ phận người trẻ quan tâm đến các vấn đề xã hội, đặt câu hỏi, phản biện, bày tỏ chính kiến hay tham gia tranh luận trên không gian mạng là biểu hiện bình thường của đời sống xã hội hiện đại. Đó trước hết là nhu cầu được tham gia, được thể hiện chính kiến và khẳng định trách nhiệm của người trẻ đối với những vấn đề mà họ quan tâm. Điều cần bác bỏ là từ những biểu hiện đó suy diễn thành một “căn tính chính trị” chung của cả Gen Z.

Đây là sự đánh đồng giữa một thế hệ xã hội với một lực lượng chính trị và giữa những biểu hiện cá nhân với một xu hướng chính trị thống nhất. Gen Z không phải một tổ chức, phong trào hay lực lượng chính trị có chung mục tiêu, hệ tư tưởng và phương thức hành động. Đây là một thế hệ rất đa dạng về hoàn cảnh sống, nghề nghiệp, trình độ, lợi ích, trải nghiệm và nhận thức. Trong cùng một vấn đề, những người trẻ hoàn toàn có thể có những quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.

Do đó, lấy tiếng nói của một bộ phận người trẻ trên mạng xã hội để đại diện cho cả thế hệ rồi gán cho họ một “căn tính chính trị” mới là một phép khái quát hóa thiếu cơ sở khoa học. Muốn xác định sự hình thành một xu hướng hay lực lượng chính trị phải dựa trên những bằng chứng về tính ổn định của nhận thức, sự thống nhất tương đối về mục tiêu, giá trị, tổ chức và phương thức hành động, chứ không thể chỉ dựa vào một số hiện tượng truyền thông hoặc những cuộc tranh luận nhất thời trên không gian mạng.

Thứ hai, chính trị hóa tiếng nói của Gen Z là sự lợi dụng tiếng nói chính đáng của giới trẻ; cần chủ động ngăn chặn việc kích động, dẫn dắt và cực đoan hóa nhận thức của thanh niên. Cần khẳng định rằng, tôn trọng tiếng nói của người trẻ không có nghĩa là phủ nhận những khác biệt trong quan điểm của họ. Thanh niên có quyền quan tâm, bày tỏ suy nghĩ, kiến nghị và tham gia các hoạt động xã hội theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Một xã hội phát triển cần tạo điều kiện để người trẻ phát huy trí tuệ, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm.

Vì vậy, đấu tranh với việc lợi dụng Gen Z hoàn toàn không đồng nghĩa với việc phủ nhận tiếng nói của Gen Z. Ngược lại, chính vì tiếng nói của giới trẻ có sức lan tỏa lớn trên không gian mạng nên nó có thể trở thành đối tượng bị khai thác, thao túng. Một vấn đề xã hội cụ thể có thể bị tách khỏi bối cảnh; thông tin chưa kiểm chứng có thể được khuếch đại; cảm xúc bức xúc của một bộ phận người trẻ có thể bị đẩy thành tâm lý đám đông. Từ đó, một số chủ thể có thể từng bước chuyển hướng sự quan tâm của thanh niên từ phản ánh một vấn đề cụ thể sang nhìn nhận xã hội theo tư duy đối đầu, cực đoan; từ phản biện sang phủ định; từ bất đồng quan điểm sang kích động chia rẽ.

Do đó, cần đặc biệt cảnh giác với thủ đoạn “đánh đồng – gán ghép – dẫn dắt”: Trước hết đánh đồng tiếng nói của một bộ phận với toàn bộ Gen Z; tiếp đó gán cho Gen Z một “căn tính chính trị” chung; cuối cùng sử dụng chính căn tính được gán ghép ấy để dẫn dắt người trẻ theo những mục tiêu chính trị nhất định. Đây không phải là sự “khám phá” một hiện tượng chính trị mới như cách Nguyễn Quang A mô tả, mà có thể trở thành một phương thức chính trị hóa và công cụ hóa tiếng nói của thanh niên.

Vấn đề đặt ra không phải là ngăn cản người trẻ lên tiếng, mà là giúp họ lên tiếng trên cơ sở thông tin đúng đắn, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân và thượng tôn pháp luật. Gen Z cần được trang bị khả năng kiểm chứng nguồn tin, nhận diện thông tin sai lệch, phân biệt phản biện có căn cứ với xuyên tạc, không chạy theo tâm lý đám đông và không để cảm xúc nhất thời bị lợi dụng để dẫn tới những hành động cực đoan. Đồng thời, cần tạo môi trường thuận lợi để thế hệ trẻ phát huy năng lực trong học tập, nghiên cứu, lao động, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, khởi nghiệp, hoạt động xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Khi được tin tưởng, lắng nghe và tạo điều kiện cống hiến, sức trẻ và trí tuệ của Gen Z sẽ trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển đất nước.

Tóm lại, Nguyễn Quang A cho rằng những phản ứng và tranh luận của một bộ phận giới trẻ là biểu hiện của một “căn tính chính trị” mới của Gen Z là một cách khái quát hóa thiếu căn cứ, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ chính trị hóa và công cụ hóa tiếng nói của thanh niên. Gen Z là một thế hệ đa dạng, năng động và sáng tạo, chứ không phải một lực lượng chính trị thống nhất. Vì vậy, cần kiên quyết bác bỏ cách đánh đồng tiếng nói của một bộ phận với cả thế hệ, bác bỏ việc gán ghép cho Gen Z một “căn tính chính trị” được định nghĩa từ bên ngoài; chủ động nhận diện và đấu tranh với mọi hành vi lợi dụng tâm lý, khát vọng và sức lan tỏa của giới trẻ để kích động, phân cực và dẫn dắt theo hướng cực đoan./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Sep 29, 2026

Không thể xuyên tạc, phủ nhận thành quả của công cuộc đổi mới

           Trên trang Boxitvn, Nguyễn Thông phát tán bài viết “Bọt là bể khổ, bèo là bến mê”, cho rằng: “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” chỉ là cách “nói lấy được, giành công lao, ăn theo, ngoan cố”, đồng thời mỉa mai vế “định hướng xã hội chủ nghĩa” là “cái đuôi vướng víu, cản trở sự phát triển”. Những nhận định này không phải là phản biện khoa học đối với mô hình phát triển của Việt Nam, mà là cách nhìn phiến diện, cố tình tách rời khái niệm khỏi nội hàm lý luận và thực tiễn, từ đó phủ nhận những thành quả của công cuộc Đổi mới và gây hoài nghi về con đường phát triển mà Việt Nam đã lựa chọn.

Thứ nhất, phủ nhận “định hướng xã hội chủ nghĩa” là phủ nhận sự phát triển cả về lý luận và thực tiễn của mô hình kinh tế Việt Nam. Luận điệu coi “định hướng xã hội chủ nghĩa” là một “cái đuôi vướng víu” trước hết xuất phát từ cách hiểu giản đơn, đối lập giả tạo giữa “kinh tế thị trường” và “chủ nghĩa xã hội”. Trên thực tế, kinh tế thị trường không phải sản phẩm độc quyền của một chế độ chính trị hay một hình thái kinh tế – xã hội cụ thể, mà là một phương thức tổ chức và vận hành nền kinh tế đã được nhiều quốc gia sử dụng với những thể chế, mục tiêu và mức độ điều tiết khác nhau. Chính quá trình đổi mới tư duy của Việt Nam đã từng bước khẳng định kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại và là phương thức cần thiết để phát triển lực lượng sản xuất, huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả.

Vấn đề cốt lõi không nằm ở việc có sử dụng cơ chế thị trường hay không, mà là thị trường được vận hành trong khuôn khổ thể chế nào, phục vụ mục tiêu gì và được điều tiết như thế nào để bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân. Hiến pháp Việt Nam xác định nền kinh tế là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường.

Như vậy, “định hướng xã hội chủ nghĩa” không phải một yếu tố được gắn thêm một cách cơ học vào nền kinh tế thị trường, càng không phải “vật cản” đối với thị trường. Đó là định hướng về mục tiêu phát triển, quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, giữa hiệu quả kinh tế với bảo đảm an sinh, giữa phát triển với ổn định và độc lập, tự chủ của nền kinh tế. Chính định hướng đó đặt ra yêu cầu phải phát triển đầy đủ các loại thị trường, tôn trọng cạnh tranh và quyền tự do kinh doanh, đồng thời hoàn thiện thể chế để Nhà nước thực hiện chức năng kiến tạo, điều tiết và khắc phục những thất bại của thị trường.

Thực tiễn 40 năm Đổi mới cũng cho thấy, không thể dùng một vài nhận xét mang tính giễu cợt để phủ nhận cả một quá trình phát triển lý luận và tổng kết thực tiễn. Từ chỗ từng bước tháo bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, Việt Nam đã hình thành ngày càng đầy đủ hơn các yếu tố của kinh tế thị trường, mở rộng hội nhập quốc tế, phát triển nhiều thành phần kinh tế và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách. Trong các văn kiện tổng kết 40 năm Đổi mới tiếp tục khẳng định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và là một trụ cột của thể chế phát triển nhanh, bền vững. Do đó, gọi “định hướng xã hội chủ nghĩa” là “cái đuôi vướng víu” không những không chứng minh được tính khoa học của lập luận, mà còn cho thấy sự cố tình giản lược một vấn đề lý luận phức tạp thành một khẩu hiệu chế giễu.

Thứ hai, lấy những hạn chế, bất cập của nền kinh tế để phủ nhận toàn bộ mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là cách lập luận phiến diện, đánh tráo giữa khuyết điểm trong quá trình vận hành với bản chất của mô hình. Không thể phủ nhận rằng quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục giải quyết như chất lượng thể chế, hiệu quả phân bổ nguồn lực, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, chênh lệch phát triển và những bất cập trong quản lý thị trường. Nhưng chính việc thừa nhận những hạn chế đó và liên tục hoàn thiện thể chế mới là biểu hiện của một mô hình đang vận động, điều chỉnh và phát triển, chứ không phải bằng chứng để phủ nhận toàn bộ định hướng phát triển.

Việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là một nhiệm vụ chiến lược và một khâu đột phá nhằm tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế; thúc đẩy đổi mới sáng tạo và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Đặc biệt, tư duy về mô hình này không đứng yên. Những điều chỉnh gần đây tiếp tục nhấn mạnh việc phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, hoàn thiện thể chế và bảo đảm các nguồn lực được phân bổ theo nguyên tắc thị trường. Năm 2026, các định hướng mới tiếp tục xác định kinh tế nhà nước là một thành phần quan trọng, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, ổn định kinh tế vĩ mô, tăng cường năng lực tự chủ và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững.

Điều đó cho thấy “định hướng xã hội chủ nghĩa” không đồng nghĩa với phủ nhận thị trường, càng không đồng nghĩa với duy trì cơ chế bao cấp, mệnh lệnh hay triệt tiêu cạnh tranh. Ngược lại, mô hình đang được hoàn thiện theo hướng tôn trọng đầy đủ hơn các quy luật của thị trường, đồng thời sử dụng vai trò của Nhà nước và các chính sách xã hội để bảo đảm những mục tiêu phát triển rộng lớn hơn lợi nhuận đơn thuần. Đây chính là điểm mà cách lập luận của Nguyễn Thông đã cố tình bỏ qua.

Tóm lại, kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa không phải hai yếu tố đối lập loại trừ nhau, mà trong mô hình Việt Nam được kết hợp thành một phương thức phát triển phù hợp với điều kiện lịch sử, chính trị và mục tiêu phát triển của đất nước. Vì vậy, thay vì phủ nhận sạch trơn “định hướng xã hội chủ nghĩa”, cần nhìn nhận một cách khách quan rằng nhiệm vụ đặt ra hiện nay là tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát huy đầy đủ động lực của kinh tế thị trường, giải phóng các nguồn lực, khuyến khích đổi mới sáng tạo, đồng thời bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đó mới là cách tiếp cận khoa học đối với con đường phát triển của Việt Nam./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Sep 23, 2026

Bác bỏ luận điệu đánh tráo khái niệm để xuyên tạc bản chất Nhà nước Việt Nam

            Trên trang Baotiengdan đăng bài viết của Bùi Anh Chiến với tựa đề “Bản án một chế độ thực dân”. Y đã gọi chế độ chính trị ở Việt Nam là một dạng “thực dân” không cần quân đội nước ngoài chiếm đóng, Bùi Anh Chiến đã cố tình đánh tráo khái niệm, phủ nhận bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kích động sự đối lập giữa Nhà nước với Nhân dân, qua đó làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.

Thứ nhất, đánh đồng chế độ chính trị ở Việt Nam với chế độ thực dân là sự xuyên tạc lịch sử và đánh tráo bản chất chính trị. Thực dân là chế độ trong đó một thế lực ngoại bang sử dụng bạo lực xâm lược, tước đoạt độc lập, chủ quyền, áp đặt bộ máy cai trị và bóc lột nhân dân thuộc địa để phục vụ lợi ích của chính quốc. Dưới chế độ thực dân, nhân dân thuộc địa không được làm chủ đất nước, không có quyền quyết định vận mệnh dân tộc; tài nguyên bị vơ vét, sức lao động bị bóc lột, các quyền dân tộc cơ bản bị chà đạp. Dân tộc Việt Nam đã từng trải qua hơn 80 năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và phải hy sinh biết bao xương máu mới giành lại được độc lập, tự do.

Chính Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo Nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh trường kỳ, gian khổ để xóa bỏ chế độ thực dân, giành chính quyền về tay Nhân dân, thống nhất đất nước và xây dựng chế độ mới. Bởi vậy, gọi Nhà nước do chính Nhân dân Việt Nam đấu tranh giành được, xây dựng, bảo vệ và tham gia quản lý là “chế độ thực dân” không chỉ hoàn toàn phi lý về phương diện khoa học mà còn xúc phạm sự hy sinh của hàng triệu đồng bào, chiến sĩ vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Đây là thủ đoạn cố tình xóa nhòa ranh giới giữa bộ máy xâm lược phục vụ lợi ích ngoại bang với Nhà nước đại diện cho ý chí, quyền làm chủ và lợi ích của Nhân dân Việt Nam.

Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) khẳng định rõ, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước. Mục tiêu của Nhà nước là bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Bản chất ấy được thể hiện bằng hệ thống pháp luật và các thiết chế bầu cử, tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo, giám sát, phản biện xã hội và thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Thứ hai, kích động sự đối lập giữa Nhà nước với Nhân dân là thủ đoạn nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và làm xói mòn niềm tin của Nhân dân. Bài viết của Bùi Anh Chiến sử dụng hàng loạt câu chữ mang tính tuyệt đối hóa rằng: Người dân “phải làm việc để nuôi bộ máy”, “phải im lặng để tránh rắc rối”, thông tin chỉ là sản phẩm “tự chỉnh sửa, tự nghĩ ra và tự tô vẽ”. Y không đưa ra những căn cứ đầy đủ, không đánh giá toàn diện thực tiễn đất nước, mà gom nhặt một số vụ việc tiêu cực, những bất cập đang được xử lý rồi quy kết thành đặc trưng của toàn bộ hệ thống chính trị. Đây là thủ pháp quen thuộc nhằm khoét sâu tâm lý bức xúc, biến những mong muốn chính đáng của người dân về một nền hành chính tốt hơn thành sự phủ định Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong chế độ ta, quan hệ giữa Nhà nước và Nhân dân không phải quan hệ giữa kẻ cai trị với người bị trị, mà là quan hệ giữa Nhà nước thực hiện quyền lực do Nhân dân trao và Nhân dân tham gia xây dựng, kiểm tra, giám sát quyền lực ấy. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” ngày càng được thể chế hóa cụ thể. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở quy định người dân có quyền được công khai thông tin, đề xuất sáng kiến, tham gia ý kiến, bàn và quyết định những vấn đề liên quan trực tiếp đến cộng đồng; kiểm tra, giám sát, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo và khởi kiện đối với những hành vi vi phạm pháp luật.

Bùi Anh Chiến cũng cố tình đánh đồng việc quản lý hoạt động thông tin, ngăn chặn thông tin giả, xuyên tạc, kích động bạo lực với “kiểm soát thông tin” và “cấm đoán phản biện”. Trong khi Hiến pháp Việt Nam ghi nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội và biểu tình của công dân. Và, ở mọi quốc gia, việc thực hiện các quyền tự do phải tuân thủ pháp luật, không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Cho nên, phản biện có căn cứ, với động cơ xây dựng thì được tôn trọng, nhưng nếu lợi dụng phản biện để bịa đặt, vu khống, kích động chống đối, gây mất ổn định xã hội thì phải bị xử lý theo pháp luật.

Tóm lại, phản ánh hạn chế, góp ý chính sách và đấu tranh với sai phạm là quyền, đồng thời là trách nhiệm của công dân. Nhưng mượn danh phản biện để đánh tráo khái niệm, biến hạn chế thành bản chất, đồng nhất Nhà nước của Nhân dân với chế độ thực dân và kích động Nhân dân đối lập với Nhà nước là sự xuyên tạc. “Bản án” thực sự phải dành cho những luận điệu sai trái, cố tình chia rẽ Đảng, Nhà nước với Nhân dân của Bùi Anh Chiến./.

 (Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

 

Phản bác các luận điệu xuyên tạc Việt Nam đàn áp xuyên quốc gia


Có những khái niệm ra đời để gọi tên một thực tế nghiêm trọng, rồi bị mượn đi phục vụ mục đích khác hẳn. “Đàn áp xuyên quốc gia” là một trường hợp như vậy. Gần đây, một số tổ chức phản động, chống phá lưu vong gắn cụm từ này vào những vụ án hình sự mà Việt Nam xử lý theo đúng trình tự pháp luật, nhằm khoác cho người phạm tội “chiếc áo nạn nhân”. Cần nói rõ ngay: nơi cư trú không làm thay đổi bản chất hành vi và càng không tạo ra quyền miễn trừ trước pháp luật.

Trước hết phải trả khái niệm về đúng chỗ của nó. Trong nghiên cứu và thực tiễn quan hệ quốc tế, đàn áp xuyên quốc gia chỉ việc một nhà nước dùng bạo lực, bắt cóc, thủ tiêu hoặc trả thù thân nhân để bịt miệng người đang ở nước ngoài. Đặc trưng của nó là cưỡng chế nằm ngoài khuôn khổ pháp luật: không qua tòa án, không thủ tục, không ai chịu trách nhiệm. Chính vì vậy mà nó bị lên án.

Trong khi đó, khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử là chuyện khác hẳn. Đó là hoạt động tố tụng, có căn cứ pháp lý, có trình tự, có quyền bào chữa và có bản án công khai. Lấy các bản án hình sự rồi quy kết là đàn áp xuyên quốc gia không phải nhầm lẫn học thuật, đó là hành vi có chủ đích nhằm đổi vị thế: biến bị cáo thành nạn nhân, biến cơ quan tố tụng thành thủ phạm.

Thực chất, vấn đề mấu chốt nằm ở đối tượng chịu tác động của pháp luật và trả lời cho câu hỏi: pháp luật hình sự Việt Nam điều chỉnh những ai. Điều 117 Bộ luật Hình sự quy định về tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là cấu thành tội phạm cụ thể, áp dụng cho mọi chủ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của bộ luật. Không điều khoản nào cho phép miễn trách nhiệm khi người vi phạm đang sinh sống bên ngoài biên giới Việt Nam.

Điều này càng đúng với hành vi trên không gian mạng. Một kênh thông tin đặt máy chủ ở nước ngoài nhưng sản xuất nội dung tiếng Việt, nhắm vào người đọc trong nước, thì tác động phát sinh trong nước. Theo luật, hậu quả nằm ở đâu hoặc vụ án xảy ra ở đâu/hành vi vi phạm thực hiện ở đâu thì thẩm quyền xử lý thuộc về nơi đó. Còn xét xử vắng mặt, vốn hay bị đem ra làm bằng chứng, thực ra là chế định được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đang áp dụng ở nhiều quốc gia châu Âu. Một thủ tục mà chính các nước đang phê phán vẫn dùng thì không thể tự nó là đàn áp.

Các vụ việc gần đây cần được trình bày đúng từng giai đoạn tố tụng. Ngày 31/12/2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử Lê Trung Khoa và Nguyễn Văn Đài, tuyên phạt mỗi bị cáo mười bảy năm tù. Trường hợp Đặng Thị Huê khác hẳn: ngày 22/10/2025, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Hưng Yên mới khởi tố bị can theo Điều 117, vụ án đang điều tra, chưa có phiên tòa. Mô tả một người mới bị khởi tố như thể đã bị kết án là cách hành xử của chính những người lớn tiếng nhất về tố tụng.

Câu chuyện Nguyễn Văn Đài càng bác bỏ cáo buộc theo một chiều khác. Đối tượng này từng được hưởng chính sách nhân đạo, được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để xuất cảnh chữa bệnh. Một nhà nước muốn truy đuổi ai đó thì đã không mở cửa cho người ấy đi. Điều diễn ra sau đó mới là gốc rễ của vụ án: thay vì dừng lại, đối tượng lại tiếp tục con đường cũ bằng các tài khoản mạng xã hội và kênh video do chính mình quản lý. Bản án cuối năm 2025 vì thế là hệ quả của những hành vi mới, sau khi đã được khoan hồng.

Trường hợp Lê Trung Khoa cho thấy một chiều kích khác: việc chống phá đã bị thương mại hóa. Theo kết quả điều tra được công bố, nội dung xuyên tạc ở đây vận hành như một dây chuyền, trong đó khoảng 90% lượt xem đến từ trong nước, được quy đổi thành doanh thu quảng cáo và tài trợ. Khi thu nhập tỷ lệ thuận với mức độ gây sốc thì cái gọi là phản biện xã hội đã đổi bản chất từ lâu. Điều tra cũng cho thấy sự câu kết có tổ chức giữa nhiều đối tượng lưu vong, nên luận điệu cho rằng đó là “ý kiến cá nhân” không thể chấp nhận được.

Ngày 14/10/2025, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc bầu Việt Nam làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2026 - 2028 với 180 phiếu thuận, cao nhất trong nhóm các nước châu Á và Thái Bình Dương. Kết quả đó cho thấy, thành tựu nhân quyền Việt Nam đủ sức thuyết phục các nước trên thế giới và không hề có chuyện đàn án cả trong nước và xuyên biên giới. Con số 180 phiếu thuận không do Việt Nam tự công bố. Đó là kết quả bỏ phiếu của gần hai trăm quốc gia, gồm cả những nước còn khác biệt với Việt Nam. Lá phiếu ấy phản ánh đánh giá thực tế về nỗ lực bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, từ giảm nghèo, y tế, giáo dục đến quyền của các nhóm dễ bị tổn thương. Cũng cần nhắc rằng tự do ngôn luận, theo chính các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, luôn đi kèm giới hạn vì an ninh quốc gia và trật tự công cộng. Giới hạn ấy không đi ngược cam kết nhân quyền, bởi nó nằm ngay trong chuẩn mực quốc tế.

Một sự kiện khác ít ngày sau cũng đáng suy nghĩ. Trong hai ngày 25 và 26/10 /2025, Lễ mở ký Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, với 72 quốc gia đặt bút ký. Đây là điều ước quốc tế đa phương đầu tiên của Liên hợp quốc trong lĩnh vực này và mang tên Công ước Hà Nội (do Việt Nam đề xuất). Nội dung cốt lõi của Công ước chính là câu trả lời cho luận điệu đang bàn. Cộng đồng quốc tế đã thống nhất rằng không gian mạng không phải vùng vô pháp và tội phạm vượt qua biên giới phải được xử lý bằng cơ chế hợp tác pháp lý giữa các nhà nước. Nói cách khác, nguyên tắc bị gọi là đàn áp xuyên quốc gia khi Việt Nam áp dụng lại chính là nguyên tắc mà 72 quốc gia vừa ghi vào một văn kiện của Liên hợp quốc. Và ở đó, Việt Nam không ngồi ghế bị cáo mà là nước đăng cai, một bên xây dựng luật chơi chung.

Suy cho cùng, cái được gọi là đàn áp xuyên quốc gia ở đây chỉ là pháp luật vận hành đúng chức năng của nó, theo một trình tự công khai. Người ta có quyền không đồng tình với một điều luật và có quyền nói ra. Nhưng gọi sai tên sự việc thì không còn là phản biện. Gọi đúng tên luôn là điều kiện đầu tiên của mọi đối thoại tử tế về quyền con người./.


 (Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)

Sep 7, 2026

Phản bác luận điệu xuyên tạc về công tác tư tưởng trong bối cảnh mới

        Trên mạng xã hội có nhiều ý kiến trái chiều về một số nội dung trong Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới; trong đó, có mục tiêu đến năm 2030 sẽ xây dựng mạng lưới từ 15.000 đến 20.000 người có uy tín và ảnh hưởng làm công tác tư tưởng trên cả nước. 
        Một số người đặt câu hỏi tại sao Việt Nam lại cần một “lực lượng chuyên gia” đông đến như vậy để làm công tác tư tưởng, trong khi ở nước ngoài làm gì có lực lượng nào chuyên trách về tư tưởng. Họ lập luận rằng tư tưởng không phải là vấn đề mấu chốt, mà kết quả và hành động thực tế mới quyết định tư tưởng xã hội và lòng tin của người dân. Một số đối tượng vu khống lãnh đạo Việt Nam dùng tiền để “mua chuộc” hay “ép buộc” những người có uy tín và ảnh hưởng trong xã hội làm công tác tư tưởng là nhằm bảo vệ chế độ độc tài trong nước, chứ không phải vì lợi ích của dân tộc. Chúng nói bừa rằng Đảng Cộng sản Việt Nam sợ sự thật sẽ làm chế độ trong nước hiện nay sụp đổ nên phải dùng một loạt hạ sách để che dấu, đánh lạc hướng dư luận nhằm che dấu sự thật.
        Phải khẳng định ngay rằng những ý kiến nói trên phản ánh hoàn toàn sai bản chất vấn đề. Sự thật là ở bất kỳ thể chế nào thì tư tưởng và ý thức hệ cũng là “vũ khí mềm” rất quan trọng để duy trì quyền lực nhà nước, tạo sự đồng thuận xã hội và bảo vệ an ninh của chế độ đó. Không có quốc gia nào trên thế giới dám lơ là lĩnh vực tư tưởng. Tùy theo hệ thống chính trị của của mỗi nước mà chức năng, tên gọi và hình thức tổ chức hoạt động liên quan đến lĩnh vực tư tưởng có thể khác nhau. 
        Chẳng hạn, ở nhiều nước phương Tây có thể không có thuật ngữ “công tác tư tưởng” theo nghĩa hành chính như ở các nước xã hội chủ nghĩa, nhưng họ luôn coi trọng việc định hình, truyền bá hệ tư tưởng của nước họ thông qua hệ thống các môn học, văn hóa đại chúng, phim ảnh, truyền thông, sách báo, v.v. Họ có hệ thống riêng để bảo vệ an ninh quốc gia của nước họ trước các mối đe dọa về “thông tin sai lệch”, không có lợi theo quan điểm của họ. Các cơ quan truyền thông được tài trợ như VOA, BBC, RFA,… phát sóng đa ngôn ngữ toàn cầu, truyền tải thông tin về tự do, nhân quyền và chỉ trích các mô hình mà họ gọi là “độc tài”. Phim ảnh Hollywood cũng lồng ghép văn hóa, quyền tự do và giấc mơ Mỹ vào đời sống toàn cầu. Khi hệ thống các nước phương Tây bị đe dọa bởi tin giả hoặc chiến dịch tuyên truyền từ các nước đối địch, họ sẽ sử dụng các đạo luật an ninh mạng và sử dụng các trung tâm chuyên trách để ngăn chặn những thông tin không có lợi cho họ. Nhiều quốc gia khác ở Trung Đông hoặc châu Á có những biện pháp cực kỳ cứng rắn để bảo vệ hệ thống tư tưởng của nước họ.
        Ở Việt Nam, công tác tư tưởng là một nội dung đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng, giữ vai trò đi trước mở đường, tạo sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra. Thực tế cách mạng Việt Nam trong suốt những năm qua đã chứng minh rằng công tác tư tưởng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng, củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân, tạo động lực tinh thần to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tạo dựng nên cơ đồ, uy tín và vị thế quốc tế của đất nước tốt đẹp như hiện nay.
        Hiện nay, thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thuận lợi, thời cơ cũng như nhiều khó khăn, thách thức khó lường cho mọi quốc gia. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo,  cùng với  sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động, đang tạo ra những thách thức khó lường về an ninh tư tưởng. Đảng ta đã xác định công tác tư tưởng trong bối cảnh mới cần phải tiếp tục đẩy mạnh và đổi mới theo phương châm “Chủ động - Sắc bén - Thuyết phục - Hiệu quả”, chuyển trọng tâm từ quản lý thông tin sang dẫn dắt nhận thức xã hội, tạo đồng thuận xã hội để tiếp tục giữ vững thành quả cách mạng, bảo vệ vững chắc môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Việc đặt ra mục tiêu hình thành mạng lưới 15.000 đến 20.000 người có uy tín, có ảnh hưởng tích cực tham gia công tác tư tưởng nhằm nhận diện sớm và phản bác kịp thời bằng luận cứ khoa học đối với các quan điểm sai trái, thù địch có tác động lớn đến đời sống xã hội, sớm ngăn chặn các nội dung vi phạm nghiêm trọng theo quy định của pháp luật Việt Nam là một bước đi công khai, chủ động, kịp thời.
        Những cá nhân có uy tín và ảnh hưởng tích cực trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… sẽ đóng vai trò cầu nối quan trọng trong việc định hướng, lan tỏa thông tin chính thống qua việc chia sẻ các thông tin chuẩn xác, chính thống từ cơ quan nhà nước và các nguồn uy tín đến đông đảo người theo dõi, qua đó góp phần bác bỏ tin đồn thất thiệt, giảm thiểu tình trạng hỗn loạn thông tin cả trên không gian thực và không gian mạng, đồng thời nâng cao hiểu biết pháp luật và văn hóa ứng xử cho cộng đồng mạng. 
        Sự tham gia của các cá nhân có uy tín và ảnh hưởng trong xã hội trong công tác tư tưởng là thể hiện ý thức trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc và sự tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Những luận điệu xuyên tạc của các đối tượng chống phá về công tác tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới là hoàn toàn không có cơ sở./. 

(Trích nguồn: https://ivanlevanlan.wordpress.com/)

Sep 3, 2026

Ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9 - mốc son không thể phủ nhận trong lịch sử dân tộc

          Trên trang Baotiengdan, Trương Nhân Tuấn đăng bài “Ngày “độc lập 2 tháng 9” nên dẹp bỏ”. Núp dưới cách diễn giải về lịch sử dựng nước, giữ nước và đề cao giá trị của Nam quốc sơn hà, tác giả đưa ra một loạt nhận định rằng dân tộc Việt Nam “đã độc lập hơn ngàn năm”, đã có “Tuyên ngôn độc lập từ ngàn năm trước”, vì thế không cần một bản tuyên ngôn độc lập mới; đồng thời xuyên tạc ý nghĩa của Ngày Quốc khánh 2/9/1945, phủ nhận vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh đối với sự nghiệp giành độc lập dân tộc.

Thứ nhất, khẳng định truyền thống độc lập hàng nghìn năm của dân tộc hoàn toàn không mâu thuẫn với việc khẳng định giá trị lịch sử và pháp lý đặc biệt của Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945. Sai lầm đầu tiên và cũng là nền tảng cho toàn bộ lập luận của Trương Nhân Tuấn nằm ở chỗ cố tình đặt Nam quốc sơn hà và Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 vào quan hệ loại trừ đã có cái trước thì cái sau trở thành “dư thừa”. Đây là một phép suy luận phi lịch sử. Không ai phủ nhận Việt Nam là quốc gia có lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo cùng nhiều văn kiện, sự kiện lịch sử khác là những cột mốc rực rỡ khẳng định ý chí độc lập, chủ quyền và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam. Nghiên cứu của các học giả Việt Nam từ lâu cũng nhìn nhận Nam quốc sơn hà như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc.

Chính vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 phải được nhìn nhận là sự kế thừa và phát triển truyền thống ấy trong một điều kiện lịch sử hoàn toàn mới, chứ không phải sự phủ nhận lịch sử trước đó. Trước Ngày 2/9/1945, Việt Nam đã trải qua hơn 80 năm dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp; đến năm 1940 lại chịu sự thống trị của phát xít Nhật. Vì vậy, vấn đề đặt ra vào năm 1945 không phải là chứng minh “dân tộc Việt Nam có từ bao giờ”, mà là xác lập lại nền độc lập đã bị chủ nghĩa thực dân tước đoạt và tuyên bố sự ra đời của một nhà nước độc lập trong trật tự quốc tế mới. Tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời tuyên bố trước quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn đồng thời tuyên bố chấm dứt quan hệ thuộc địa với Pháp, xóa bỏ những đặc quyền của Pháp ở Việt Nam và khẳng định quyền của dân tộc Việt Nam được hưởng tự do, độc lập. Bởi vậy, lấy Nam quốc sơn hà để kết luận rằng Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là “dư thừa” chẳng khác nào cho rằng một dân tộc đã từng có độc lập trong lịch sử thì sau khi bị xâm lược, mất độc lập không cần tuyên bố khôi phục chủ quyền quốc gia. Đó không phải tư duy lịch sử mà là sự đánh đồng các thời đại, các chủ thể nhà nước và các hoàn cảnh pháp lý hoàn toàn khác nhau.

Thứ hai, phủ nhận Ngày Quốc khánh 2/9/1945 thực chất là tách Tuyên ngôn Độc lập khỏi thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và xuyên tạc quá trình nhân dân Việt Nam giành lại quyền tự quyết của mình. Trương Nhân Tuấn còn cho rằng, không có chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh giành độc lập ngày 2/9/1945; rằng Nhật đã đầu hàng Đồng minh, vì thế việc giành chính quyền chỉ là “chạy đua với Đồng minh”. Cách diễn giải sai lệch này đã giản lược một quá trình lịch sử phức tạp thành một sự chuyển giao quyền lực gần như tự nhiên. Nhật đầu hàng Đồng minh là điều kiện quốc tế thuận lợi, nhưng sự đầu hàng của Nhật không tự động tạo ra một Nhà nước Việt Nam độc lập. Khoảng trống quyền lực chỉ có thể trở thành cơ hội lịch sử khi có một lực lượng chính trị đủ khả năng tổ chức nhân dân, giành chính quyền và thiết lập một chính quyền mới trên thực tế. Cách mạng Tháng Tám chính là quá trình biến thời cơ đó thành hiện thực chính trị.

Tuyên ngôn Độc lập đã chỉ rõ một thực tế lịch sử quan trọng: Nhân dân Việt Nam giành lại đất nước từ tay Nhật; chế độ thuộc địa của Pháp và chế độ quân chủ đều bị chấm dứt, từ đó Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được xác lập. Không thể chỉ viện dẫn việc Nhật đầu hàng để xóa bỏ vai trò chủ thể của hàng triệu người Việt Nam đã tham gia quá trình giành chính quyền. Điều cần phân biệt rất rõ là tôn vinh Ngày Quốc khánh 2/9/1945 không hề phủ nhận hàng nghìn năm lịch sử trước đó. Trái lại, Ngày mùng 2 tháng 9 là một mắt xích đặc biệt trong dòng chảy liên tục của ý chí độc lập dân tộc từ Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo đến Tuyên ngôn Độc lập năm 1945. Một bên khẳng định chủ quyền trong điều kiện quốc gia quân chủ thời trung đại; một bên tuyên bố nền độc lập và xác lập nhà nước mới trong bối cảnh chính trị – pháp lý quốc tế của thế kỷ XX. Chính sự kế tục ấy làm nên chiều sâu của lịch sử Việt Nam. Vì thế, lời kêu gọi “dẹp bỏ” Ngày Mùng 2 tháng 9 không phải là cách “trả lại lịch sử” cho dân tộc như cách suy diễn xuyên tạc của Trương Nhân Tuấn. Ngược lại, đó là cách cắt bỏ một mắt xích quan trọng khỏi chính lịch sử dân tộc, lấy một mốc son của quá khứ để phủ định một mốc son của thời đại sau.

Tóm lại, lập luận đòi “dẹp bỏ” Ngày Quốc khánh nùng 2 tháng 9 là cách nhìn phiến diện, phản động, đánh đồng các thời kỳ và hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Truyền thống độc lập hàng nghìn năm của dân tộc không đối lập, mà được kế thừa và phát triển trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945. Tôn trọng lịch sử phải là nhìn nhận đầy đủ tính kế thừa của truyền thống độc lập và giá trị đặc biệt của Ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9, không như lập luận xuyên tạc của Trương Nhân Tuấn./.

 (Trích nguồn: nhanvanviet.com)